-
Nhập Bồ Tát Hạnh (Việt dịch: Ni Sư Thích Nữ Trí Hải)
0- Kích thước: 14.5 x 20.5cm
Bộ luận Nhập Bồ Tát Hạnh là một kiệt tác của Phật giáo Ấn Độ . Không những trên phương diện tư tưởng , tu chứng mà còn cả trên phương diện văn học . Nó đã đem lại niềm vui cho biết bao nhiêu thế hệ .
Tương truyền ở Ấn Độ đã có hơn một trăm bộ chú thích cho bộ luận này và ở Tây Tạng nó đã trở thànhmột trong sáu bộ luận “ gối đầu ” cho những kẻ học Phật . Bộ luận này được truyền đến Trung Hoa vào đời Triệu Tống .
Lúc ấy Phật giáo vừa trải qua cơn pháp nạn khốc liệt thời Đường Vũ Tông . Kế tiếp lại bị nhiều nạn đao binh phá hoại trong thời Ngũ đại . Cho nên sinh khí của Phật giáo lúc bấy giờ gần như bị kiệt quệ , ngoài Thiền Tông và Tịnh Độ Tông , các tông phái khác gần như tuyệt tích .
Hơn nữa , vào thời đó . Các vị tăng sĩ ít “ hứng thú ” trong việc khảo cứu các tác phẩm mới được phiên dịch từ Ấn Độ . Vì lý do này , hầu hết các dịch phẩm mới dưới thời Triệu Tống ít được các nhà học Phật để ý đến và “ Nạn nhân chính ” trong đó là bộ Nhập Bồ Tát Hạnh .
Điều tệ hại nữa là bản dịch của ngài Thiên Tức Tai , một cao tăng Ấn Độ . Không những thiếu sót nhiều chỗ , văn chương lại tối tăm khó hiểu . Thành thử số phận nó lại càng hẩm hiu . Kết quả là bộ luận này đã bị bỏ quên trong bộ Đại Tạng Kinh của Trung Hoa hơn một ngàn năm mà không ai biết đến .
Trái lại , ở Tây Tạng lưu truyền rất thịnh hành và gần đây Âu Tây phong trào nghiên cứu bộ luận này càng lúc càng trở nên rầm rộ . Theo như sự hiểu biết của tôi , đã có hơn mười bộ : phiên dịch , chú giải , luận án nghiên cứu bằng tiếng Anh đã được xuất bản . Chưa kể đến các ngôn ngữ khác như Nhật, Đức , Pháp , Ý . . .
Điều này chứng tỏ nó phải có một giá trị nào đó mới có thể thu hút được sự chú ý của nhiều người như thế . Sự đặc sắc của bộ luận này có thể được nhìn từ hai phương diện :
1- Phương diện tư tưởng :
Ngài Tịch Thiên trên phương diện trước tác để lại vỏn vẹn hai ( có chỗ nói ba ) . Tác phẩm chính tức bộ luận này cùng bộ Học Xứ Tập Yếu . Tuy số lượng ít oi như thế . Nhưng chỉ cần nhìn vào , chúng ta có thể quả quyết rằng không những ngài là một học giả uyên bác mà còn là một nhà tư tưởng cao siêu .
Trong chiếc áo nhà tu , Tịch Thiên biểu hiện cho chúng ta biết ; ngài không những là bậc trí tuệ siêu phàm mà còn là một kẻ rạt rào tình cảm . Lý trí và tình cảm không bắt buộc phải bị tách đôi như các nhà triết học Tây phương quan niệm mà lý có thể hợp nhất với tình .
Vì lý do này , Phật giáo Đại thừa chú trọng nhiều đến phương diện tình cảm , Vì nếu tình cảm được đặt đúng vị trí , sẽ trở thành một động lực căn nguyên của tâm Đại Từ Bi . Muốn thành Phật , tất nhiên phải có đủ cả hai đức tính từ bi và trí tuệ . Thiếu một không thể được ! .
Phát Bồ Đề Tâm ! . Tu Bồ Tát Hạnh ! . Nghe qua có vẻ đơn giản . Nhưng chắc chắn không phải là công việc của một kẻ tầm thường . Đây là khung trời của những kẻ mà ý chí cao vượt đến những dãy ngân hà xa tít .
Phương tiện của những kẻ mà tâm nguyện kiên cường vững chãi hơn trăm ngàn thành lũy . Của những kẻ mà trăm ngàn lưỡi đao bén nhọn không làm nao núng và trăm ngàn sự vui cõi trời không làm họ xao động ! .
Ai là kẻ có thể nắm giữ được gia nghiệp của Đức Như Lai ? . Ai là kẻ có thể làm xán lạn cho gia tộcPhật ? . Những kẻ chí nguyện vững chắc hơn trăm ngàn kim cương . Chỉ có thể là những kẻ vì chúng sinh chảy dòng lệ nhạt nhòa như người mẹ hiền nức nỡ trước nỗi khổ của đứa con mình . Từ những dòng tư tưởng trong bộ luận này chúng ta có thể thấy một cách mông lung tầm kích vĩ đại của ngài Tịch Thiên ! .
2- Phương diện thực tiễn tu hành :
Điều trọng đại nhất cho hành giả bắt đầu dấn bước trên con đường Bồ Tát là phát tâm Bồ Đề . Phát tâmBồ Đề là sự chuyển mình của hành giả từ thân phận tầm thường của một phàm phu vào đến tầm kích của vũ trụ .
Đây là sự biểu hiện của một nhân cách vĩ đại không có một hệ thống triết học hay tôn giáo nào có thể tự hào . Khi hành giả lột bỏ được bộ quần áo tâm linh cũ nát để thay vào đó bằng bộ quần áo lộng lẫy – Bồ Đề Tâm . Trên phương diện người ” , hành giả trở nên cao quí hơn tất cả muôn loài trong thế giới :
Kẻ tù ngục sinh tử ,
Nếu phát Bồ Đề tâm .
Tức khắc tên Phật tử ,
Trời người nên cung kính ! .Trong kinh Hoa Nghiêm , Bồ tát Di Lặc đã mô tả cho Thiện Tài một cách tỉ mỉ về hành trạng của tâm Bồ Đề như sau :
Bồ đề tâm như hạt giống ,
Vì từ đó sinh ra tất cả Phật pháp .
Bồ đề tâm như ruộng tốt ,
Vì nơi đây sản xuất ;
Các thứ thuần tịnh cho thế gian .Bồ đề tâm như cõi đất ,
Vì gìn giữ tất cả thế gian .
Bồ đề tâm như dòng nước ,
Vì rửa sạch tất cả cáu bẩn của tham dục .Bồ đề tâm như ngọn gió ,
Vì thổi khắp thế gian ;
Không gì làm ngăn ngại .
Bồ đề tâm như ngọn lửa ,
Vì đốt cháy tất cả củi hý luận . . .Bồ đề tâm như cha lành ,
Vì bảo hộ hết thảy các Bồ tát .
Bồ đề tâm như mẹ hiền ,
Vì dưỡng dục hết thảy Bồ tát .Bồ đề tâm như nhũ mẫu ,
Vì chăm sóc hết thảy Bồ tát . . .
Bồ đề tâm như người tỉnh thức ,
Vì đẩy lui tất cả các xấu xa .Bồ đề tâm như lưới trời Đế thích ,
Vì khuất phục những quỷ phiền não A tu la .
Bồ đề tâm như lửa trời Đế thích ,
Vì đốt cháy tất cả tập quán ;
Tham dục và phiền não bất tịnh .
Bồ đề tâm như tháp thờ xá lợi ,
Vì hết thảy thế gian ;
Loài người và A tu la đồng kính ngưỡng .Rồi Bồ tát Di Lặc kết luận :
“ Này thiện nam tử , Bồ đề tâm thành tựu vô lượng công đức tuyệt diệu như vậy . Tóm lại Bồ đề tâmcũng đồng như Phật pháp và các công đức của quả Phật . Tại sao thế ? . Bởi vì , chính từ Bồ đề tâmmà hạnh Bồ tát bắt đầu khởi hành và cũng chính từ đó hết thảy Như Lai trong quá khứ , hiện tại và vị laixuất hiện ở thế gian .
Vì vậy , này thiện nam tử . Một khi ước vọng giác ngộ tối thượng được phát khởi , vô số công đức cũng được phát sinh và cả đến ý thức ẩn áo nhất của Nhất thiết trí cũng phát sinh từ đó ” .
( Trích từ Thiền Luận của Suzuki , bản dịch Tuệ Sỹ ) .
Thế nhưng , trong quá trình trui luyện chí nguyện Bồ tát , các công hạnh tuy đa dạng và nhiều đến vô lượng . Song mục đích không ngoài cốt yếu là buông bỏ tự ngã ” . Suzuki trong quyển “ Khai Ngộ Đệ Nhất ” có nói : “ Lúc buông bỏ tự ngã cũng chính là lúc tha lực hiển hiện ” .
Khi hành giả tìm đến bờ vực của tâm linh trong sự thành khẩn tha thiết đến cực độ , ngay phút giây bàng hoàng đó , hành giả có thể tạm thời quên mất tự ngã . Và chính trong giây phút huyền diệu này . Lạ lùng thay , tha lực hiển hiện như một luồng ánh sáng chan hòa ! .
Trong giây phút tuyệt vời này không còn sự phân biệt tự và tha . Mình và đối tượng đã trở thành một ! . Và ngay chính trong sự tha thiết cùng độ đó ; lại chính là giây phút hành giả thể nghiệm được chân lý , và đây chính là thể ngộ về Tính Không ! .
Dịch bản tiếng Việt bộ Nhập Bồ Tát Hạnh là một công trình kiệt xuất của Ni sư Trí Hải . Ni sư không những dịch thành văn xuôi mà lại còn dịch thành văn vần . Cả hai đều có thể gọi là những dịch phẩm quan yếu cho Phật giáo Việt Nam . Đây là một sự đóng góp lớn lao , không những cho nền văn hóaPhật giáo Việt Nam nói riêng mà còn cho cả nền văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung .
Tôi may mắn được nghiên cứu qua tác phẩm vĩ đại của ngài Tịch Thiên và đã phiên dịch bộ luận này theo thể tài kệ tụng bốn câu năm chữ . Đồng thời cũng viết xong một quyển chú giải . Song nhận thấychúng chỉ là những viên sỏi vụn không có chút giá trị nào . Nay có nhân duyên gặp được “ trân châu bảo ngọc ” nên không ngần ngại , vội vàng vứt đi những viên sỏi vụn “ sần sùi ” .
Chắp tay kính cẩn dâng hai dịch phẩm quý giá đến quý vị độc giả . Đồng thời phát tâm “ hợp đính ” để tiện cho người đọc . Nếu không thể lãnh hội phần văn vần , có thể tham khảo thêm phần văn xuôi để lãnh hội thêm ý chỉ uyên thâm của bộ luận .
Hai phần văn xuôi và văn vần có được là nhờ sư huynh tôi , thầy Thích Pháp Quang trụ trì chùa Tịnh Luật ở Texas , liên lạc với Ni sư Trí Hải ở Việt Nam gửi qua cho thầy bằng “ email ” .
Khi nhận được hai phần từ thầy Pháp Quang , tôi cảm thấy vui mừng như “ kẻ khát được cam lộ , kẻ nghèo gặp ngọc quý ” . Bèn không quản tài học thô thiển viết lên vài hàng giới thiệu hầu kết duyên với tất cả những hành giả “ Đã , đang , hoặc sẽ phát tâm học tập Bồ tát hạnh ” .
Cũng nhân đây “ phát lộ ” với tất cả đại chúng rằng mình được “ diễm phúc ” tắm gội trong hào quangcủa Tam Bảo cùng ánh sáng chói ngời của con người vĩ đại Tịch Thiên ! .
Nguyện đem công đức truyền bá “ áo nghĩa ” Đại thừa hồi hướng đến thân mẫu , Sư cô Thích Nữ Chúc Phước , đàn na tín chủ . Cùng tất cả chúng sinh .
Nguyện tất cả những ai thấy nghe tin hoặc không tin , hiểu hay không hiểu , khen , chê , kính hoặc hủy . Đời đời đều trở thành Pháp quyến của nhau , dìu dắt nâng đở cho đến ngày tất cả đều thành Chánh Giác .
Xin tất cả hãy cùng nhau phát lên lời thệ nguyện vĩ đại của Tịch Thiên :
Cho đến tận hư không ,
Nơi nào có chúng sinh .
Nguyện sẽ đến nơi đó ,
Diệt khổ đau cho họ ! . -
-
Những Chuyện Niệm Phật Cảm Ứng Mắt Thấy Tai Nghe
0“Người tu Tịnh nghiệp phải nên thực tiễn. Nếu như tu hành mà không niệm Phật, thì cũng giống như người nói ăn mà không có ăn và người đếm tiền của người khác, không có ích gì cho việc tu hành cả. Nói một trượng không bằng làm một tấc! (nói nhiều không bằng làm ít). Đây là lời của ân sư Bính Công (Lý Bính Nam) thường hay khuyên gắng những người tu học. Ngài (Bính Công) hằng tự tu và hóa độ cho người, hai mươi năm ở tại Đài Trung, ngài hoằng dương chánh pháp chưa từng có một ngày gián đoạn, với tâm Từ Bi khuyên người không biết mệt mỏi, khuyên người chân thật niệm Phật, cầu sanh Tây phương, độ người vô số. Tất cả Sĩ, Nông, Công, Thương cho đến những bà già không biết chữ hoặc những trẻ nhỏ ba tuổi … rất nhiều người đạt được sự lợi ích của niệm Phật.
Hiện nay đang là thời mạt pháp, tà thuyết rối rắm, những người tu học muốn đầy đủ pháp vị tốt đẹp, chỉ có y giáo phụng hành, chuẩn bị tư lương chờ đến kỳ hạn có thể vãng sanh về An Dưỡng (cõi Cực Lạc). Đồng trong loài người, mà có người nhân nơi chí tâm niệm Phật mà có được những cảm ứng kỳ diệu, tiêu tai giải nguy, hoặc có người nhất tâm niệm Phật, khi lâm chung nhờ Phật tiếp dẫn thị hiện những tướng lành. Học nhơn (tôi, lời khiêm xưng của tác giả) không ngại ngu muội vụng về, nghĩ ra nên đem những sự thật cảm ứng không thể nghĩ bàn, chính mình mắt thấy tai nghe trong hơn mười năm trở lại đây, nhất nhất ghi chép lại, để cho những người chưa tin Phật, niệm Phật, sớm biết tin Phật niệm Phật; những người đã tin Phật niệm Phật rồi sẽ càng gắng gỏi nỗ lực hơn, tinh tấn hơn gấp bội; những ai thấy nghe đều được lợi ích trong Phật Pháp. Đây chính là nguyện vọng của bút gia.
-
Những Mẫu Chuyện Linh Ứng Quán Thế Âm
0Quyển Những Mẫu Chuyện Linh Ứng Quán Thế Âm này chính là 1 trong những quyển sách gắn liền với tuổi thơ Thanh Duy. Mình nhớ hoài năm học lớp 6 hay lớp 7, thời gian đó tuy mình chưa biết nhiều về Phật pháp, nhưng khi được đọc những mẫu chuyện có thật về sự linh ứng của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, mình thích lắm và càng có tín tâm sâu hơn đối với Ngài vì Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là một vị Bồ Tát rất quen thuộc không những với quý cô, chú, huynh đệ Việt Nam mà toàn thế giới.Trong quyển này không chỉ có những câu chuyện có thật về sự linh ứng của Ngài mà còn có phần Đại Bi Xuất Tượng, Phương pháp trì tụng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm Phổ Môn, phương pháp sám hối, phương pháp trì tụng, lễ lạy Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Mà xen kẽ nhau rất tinh tế qua từng câu chuyện, không có làm mình cảm thấy nhàm chán khi đọc. -
Những Thai Nhi Vô Tội (HT. Tuyên Hoá)
0Lời Giới Thiệu – Suy TưKhi tôi đọc bản thảo quyển sách này, lòng tôi bàng hoàng xúc động. Một trong những bài tường thuật mang tựa đề “Đừng Để Lỗi Lầm Xảy Ra Lần Nữa” đã đặc biệt khiến tôi có nhiều cảm xúc. Tác giả, ông Vương Sĩ Minh, kể lại ông đã từng mang mặc cảm tội lỗi và xấu hổ suốt cả đời không cách nào xóa đi được. Sao lại như vậy? Ông viết:“Tôi không thể nào ngờ được, lúc tôi còn là một học sinh chưa đầy hai mươi tuổi, bằng hành động thật nông nổi, tôi đã dại dột mang một mạng sống đến cõi đời nầy, lại vô tri không biết gì để rồi cướp đoạt đi cái quyền sinh tồn của thai nhi đó!”.Điều nầy làm tôi giật mình nghĩ đến: “Trong khuôn viên trường học của chúng ta ngày nay, biết bao học sinh / sinh viên ở trong tâm trạng ray rức giống như ông Vương trẻ tuổi ngày nào?”. Từ năm 1975, tôi đã giảng dạy trong suốt ba mươi ba năm. Trong hơn ba mươi năm nay, tôi đã chứng kiến khung cảnh sân trường thay đổi từ mộc mạc và đơn giản thành phóng túng buông thả. Sự phóng túng ở sân trường chúng ta [Đài Loan] vượt trội hơn ở vài quốc gia khác.Trước kia trong khuôn viên đại học, nền tảng quan hệ nam nữ khép nép trong phép giao thiệp lịch sự, họ đối xử tôn trọng lẫn nhau trong khuôn khổ tiền hôn nhân của thời yêu đương tình tứ, hàm súc nét đẹp tự nhiên thấp thoáng trong sự tự kềm chế của đôi bên, họ không hề gây ra chuyện gì để rồi ngày mai đây cả hai phải bị bóng tối ám ảnh bao trùm.Đem vấn đề tình dục trước hôn nhân ra mà nói, trong quá khứ, bất kể xã hội Tây phương cũng như Đông phương, chuyện này đều không nên. Thế nhưng hiện tại ư, chẳng còn là chuyện mới mẻ và thường chứng kiến thấy, sinh viên tuổi trẻ Đài Loan đã trộm nếm quả cấm trong kỳ nghỉ hè, khi tựu trường họ lo việc thu dọn tàn dư hậu quả xảy ra. Một vị bác sĩ sản phụ khoa càng nhấn mạnh hơn: “Những năm gần đây, phá thai không còn giới hạn vào tháng chín (tựu trường), bây giờ gần như hằng ngày là ngày phá thai!” Càng khiến cho người nghe phát lạnh xương sống vì các học sinh trẻ người non dạ đem việc phá thai bừa bãi xem như là cách ngừa thai, thái độ của chúng cũng rất bình thản vô sự; hơn thế, độ tuổi của đối tượng phá thai càng lúc càng giảm xuống.Chúng ta cũng có thể phát hiện, tuy tỷ số sinh sản ở Đài Loan dần dần tuột dốc, nhưng phong trào phá thai lại trên đà gia tăng. Đem so sánh với nước Pháp là nơi nam nữ tự do quan hệ phóng túng, mức tỷ lệ phá thai ở Đài Loan lại vượt hơn gấp sáu lần. Nhất là sau cuộc kỹ nghệ hóa và đô thị hóa, cơ cấu xã hội và giao tế tiếp xúc giữa con người phức tạp hơn rất nhiều so với ngày trước! Sự biến động hỗn loạn về quan điểm giá trị xã hội, khiến con người có xu hướng thiên về “tiền tài”, dùng đồ hiệu, đi đôi dép công danh lợi lộc; hơn nữa tốc độ truyền thông tin học nhanh chóng, những khoái cảm tình dục phóng túng cũng lại phơi bày một cách không ngừng . Hậu quả đưa đẩy đến là, những sinh viên trẻ tuổi vốn dĩ ngay thẳng trong sạch, hào khí sung sức và đầy nhiệt huyết, bởi do không có quan điểm đạo đức đúng đắn kềm chế, nên đưa chân sa lầy đắm thân vào việc lấy xác thịt đổi chác đồng tiền, hoặc là vì hành vi lỡ lầm trong quan hệ khác phái trước hôn nhân dẫn đến hoàn cảnh mang thai túng quẫn.Trông thấy những gì xảy ra, chúng ta không khỏi lo ngại — Nền giáo dục của chúng ta đã có vấn đề gì? Chúng ta phải nên cứu vớt những bạn trẻ thanh thiếu niên nầy như thế nào?Có phải là chúng ta nên bảo họ cái gì nên làm và những gì họ không nên làm theo quan điểm đạo đức cơ bản. Một cách minh bạch rõ ràng để cho các em học sinh biết phải quấy, mà chẳng phải cho là “Miễn sao tôi thích là được, không có gì phải ngăn cản”. Chúng ta chẳng mong những cậu học trò như Vương Sĩ Minh năm nào sẽ càng lúc càng nhiều, chúng ta cũng không muốn những học sinh trẻ tuổi đều phải suốt đời vấn vương một vết thương hổ thẹn trong lòng chẳng vứt bỏ được !Không có quan niệm đúng đắn, thì chúng ta mãi như đi trong bóng tối triền miên, lạc đường rồi cũng không hay biết. Nói chung, người ta có quan niệm về việc phá thai cũng không đúng đắn vậy, cho là thai nhi chưa ra đời thì không tính là sinh mạng, cho nên có thể tùy tiện lấy ra vứt bỏ. Thực ra có thai, tức có sinh mạng tồn tại, nếu không, thai nhi làm sao có thể mỗi ngày phát triển lớn dần? Giống y hệt như chúng ta những người đã ra đời, bởi vì chúng ta có sinh mạng, cho nên có thể cử động, có thể sống, và có thể trưởng thành. Do đó, sinh mạng của thai nhi cũng có sự sống như chúng ta vậy.Bản thân tôi là giáo đồ đạo Thiên Chúa, Công Giáo vốn sẵn tôn trọng sanh mạng. Nay quyển sách “Những Vong Linh Thai Nhi Vô Tội”, tuy là cấp thiết nói lên từ quan điểm Phật Giáo, nhưng tinh thần từ bi yêu thương bảo hộ sanh linh muôn loài khiến người cảm động. Trong sách, những lời diễn giảng và giải đáp của Hòa Thượng Tuyên Hóa cùng chúng đệ tử của Ngài về vấn đề phá thai, khiến tôi mở rộng tầm mắt nhìn; trong số đó những câu chuyện của mỗi trường hợp điển hình cá biệt, càng thêm khiến cho tôi cảnh thức thật sâu tận đáy lòng. Với quyển sách vấn thế nầy, tôi tin tưởng sẽ hướng dẫn rất nhiều người cải chánh quan niệm sai lệch về phá thai, tiến xa hơn, nhằm mang lại sự giúp đỡ rộng lớn cho xã hội, cũng có thể nhờ thế cứu vãn rất nhiều sinh mạng ! Tôi càng lòng thành tha thiết mong mỏi danh từ “Phá Thai” có thể đến thời điểm nầy sẽ trở thành danh từ lịch sử (quá khứ), để càng có nhiều sinh mạng nhờ đó được sống còn.Giáo Sư Lý Gia ĐồngViện Đại Học Quốc Gia Ký Nam và Cựu Viện Trưởng Đại Học Thanh Hoa , Đài Loan. -
-
Niệm Phật Chuyển Hoá Tế Bào Ung Thư
0- Kích thước: 14.5 x 20.5cm
Mỗi dòng trong nguyên tác Niệm Phật Chuyển Hoá Tế Bào Ung Thư là một chuỗi châu ngọc vô giá, đem lại nguồn an ủi và khích lệ vô biên cho người đọc. Mỗi tư tưởng của tác giả là một nguồn ánh sánh thanh tịnh, soi rọi thân tâm chúng ta khiến mê lầm tan biến, còn lại tâm mát mẻ sáng trong.
Giá trên website chưa bao gồm phí vận chuyển.
-
Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh
0LỜI NGỎNam Mô A Di Đà Phật.
Minh Tuệ tôi là một tiểu tăng rất dốt chữ nghĩa và giáo lý, lại thêm tuổi già sức yếu không có khả năng tụng kinh, tọa thiền, chỉ dốc một lòng niệm Phật A Di Đà cầu vãng sanh Cực Lạc để thành Phật độ chúng sanh. Sau nhiều năm nhập thất tịnh tu, vâng lịnh Thầy Trụ trì và Thầy Giáo thọ, tôi ra thất chia xẻkinh nghiệm niệm Phật cầu vãng sanh cho Phật tử chùa Tịnh Luật từ tháng ba năm 2009. Sau một năm làm Phật sự, có một số Phật tử trong và ngoài tiểu bang Texas thiết tha yêu cầu tôi viết lại kinh nghiệm tu tập của mình để làm kim chỉ nam cho hành giả Tịnh Độ. Tôi đã nhiều lần từ chối, hôm nọ bỗng dưng tôi sực nhớ lại lời chư Tổ, chư Cổ đức dạy: “Tỳ kheo là phải tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự và dù phải bỏ thân mạng để hoằng dương Tịnh độ, vẫn phải làm”, nên tôi mạnh dạn nhận lời viết quyển “Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh” này.
Từ đó, hằng ngày sau thời khóa niệm Phật, tôi thường cầu Đức từ phụ A Di Đà và chư Phật mười phương gia bị cho tôi viết quyển sách nầy đúng như pháp. Sau nhiều tháng đọc qua sách vở, tôi sưu tập những lời dạy của Đức Thế Tôn, chư Tổ, chư Cổ đức, rút gọn lại những kinh nghiệm hành trì, cộng thêm sự khích lệ và giúp đỡ quý báu của quý Thầy, quý liên hữu gần xa, tôi hoàn thành được quyển sách nhỏ bé này.
Nhân đây, chúng tôi thành kính tri ân: Hòa thượng Thượng Trí Hạ Tịnh, (viện chủ Chùa Vạn Đức), Hòa thượng Thượng Thiện Hạ Huệ, Đại đức Thích Tịnh Trí (Trụ trì chùa Tịnh Luật), Đại đức Thích Pháp Quang (Giáo Thọ chùa Tịnh Luật), Đại đức Thích Chân Văn (FL) cùng chư liên hữu: Minh Chí (MI), Diệu Âm (Ngọc Minh, Austin), Phạm Khanh (KT
Printing), Hoằng Minh, Hoằng Huệ, Tịnh Ngọc (Houston), Bảo Nghiêm (PA), Diệu Thanh (CA), Quảng Âm (CA), Minh Trung (CA), Phương Đoan (VA), Huệ Tâm (CA), Quảng Diên, Thiện Bảo, Không Trì, cô Uyên Đinh, cô Tâm Lý, cô Ngọc Tâm và nhiều liên hữu khác đã khuyến khích, tận tâm giúp đỡ tôi hoàn thành quyển sách này.Chúng tôi ước mong quyển sách này được phổ biến rộng rãi, những ai có duyên được đọc, áp dụng đúng lời chỉ dẫn chắc chắn sẽ thỏa chí nguyện là đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh Cực Lạc thành Phật độ chúng sanh.
Tự thiết nghĩ đức trí hạ liệt, với kinh nghiệm nhỏ nhoi hạn hẹp, không sao tránh khỏi những lỗi lầm sai sót. Chúng con thành tâm kính đê đầu đảnh lễ ngưỡng mong các bậc Tôn Túc từ bi hoan hỉ chỉ dạy cho.
Chúng tôi cũng hết lòng cầu mong các liên hữu gần xa tự nguyện hoan hỉ góp ý xây dựng, để tài liệu này ngày càng phong phú hơn hầu thật sự đem lại nhiều lợi ích cho hành giả Tịnh độ.
Việc làm này nếu có chút ít công đức, con nguyện hồi hướng cho tất cả chúng sanh trong mười phương pháp giới đồng phát khởi, trưởng dưỡng, thành tựu Tín, Nguyện, Hạnh để cùng con đồng vãng sanh Cực Lạc, thành Phật độ chúng sanh.
Nam Mô A Di Đà Phật
-
-
Niệm Phật Thành Phật
0Trong một lần đến thăm Tịnh Tông Học Hội ở Singapore, chúng tôi may mắn đọc được quyển “ Niệm Phật Thành Phật” (Hoa ngữ) do một vị cư sĩ Diệu Âm dày công biên soạn và trích lục lại những khai thị quan trọng của pháp sư Tịnh Không, khi Ngài thuyết giảng kinh “Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác”.
Xin chân thành tri ân công đức vô lượng của cư sĩ Diệu Âm đã trích lục những lời giáo huấn vàng ngọc của pháp sưTịnh Không về cách hành trì, tu tập pháp môn Tịnh Độ!
Mặc dù với trình độ hiểu biết còn non kém về Hoa ngữ, thế pháp lẫn Phật pháp, song chúng tôi xin phép mạo muội được dịch lại bằng Việt ngữ, hầu chia sẻ pháp đạo này cùng các vị đạo hữu Tịnh Độ, để chuyên tâm niệm hồng danh A Di Đà Phật, nguyện kiếp này thành tựu vãng sanh về Tây Phương Cực lạc Thế Giới, cứu cánh viên mãn, đồng thành Phật đạo.
Phần diễn dịch chắc chắn không tránh khỏi nhiều sai sót. Kính mong được các vị Thiện Tri Thức chỉ dạy và bổ khuyết, để quyển sách này ngày càng được hoàn chỉnh hơn.
Xin chắp tay cung kính tri ân quý thiện nhân, quý Phật tử đã hoan hỉ đóng góp công đức tài lực để thực hiện quyển sách được hoàn thành viên mãn. Nguyện đem công đức này, hồi hướng cho tận hư không biến pháp giới tất cả chúng sanh hữu tình và vô tình, được thoát khỏi lục đạo luân hồi, siêu sanh về Tây Phương Tịnh độ.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
Phật lịch 2556 (DL.2012)
Chúng đệ tử Diệu Âm (Sen Vàng) kính bạch.
-
Niệm Phật Thập Yếu
0Thứ đệ trong quyển này, chia thành Chương, Mục, Tiết, Đoạn khác nhau, mỗi Chương có nhiều Mục, mỗi Mục có nhiều Tiết, và mỗi Tiết có nhiều Đoạn.
Về Chương chỉ có mười, ghi số thứ tự La Mã (I-II-III) từ Đệ Nhất Yếu đến Đệ Thập Yếu.
Về Mục, ghi số thứ tự theo A-B-C.
Về Tiết, ghi số thứ tự 1-2-3, nhưng lại tiếp tục quán thông từ đầu đến cuối quyển, diễn thành từ số 1 cho đến số 72. Tuy sắp thành Chương, Mục, Tiết, Đoạn, nhưng Tiết mới chính là đơn vị, và thành phần cốt cán của toàn quyển. Và quyển này là sự kết hợp hay thành phần của 72 Tiết chung góp lại.
Về Đoạn, không nêu chữ Đoạn, bởi nó chỉ có tánh cách gây niệm chú ý hoặc sự phân biệt trong mỗi Tiết, nên bút giả đánh dấu bằng ngôi sao (*), đôi khi cũng ghi theo số thứ tự 1-2-3. Nhưng đây chỉ là số ít, không có tánh cách quán xuyến thành số nhiều như thứ tự của Tiết. Và đó là điểm khác biệt.
Niệm Phật Thập Yếu, theo nhan đề là mười điều thiết yếu của môn Niệm Phật hay của người tu pháp Niệm Phật. Mười điều này sẽ diễn thành mười chương theo như trên đã nói.
Mười chương ấy như sau:
1. Niệm Phật phải vì thoát sanh tử.
2. Niệm Phật phải phát lòng Bồ Đề.
3. Niệm Phật phải dứt trừ lòng nghi.
4. Niệm Phật phải quyết định nguyện vãng sanh. 5. Niệm Phật phải hành trì cho thiết thật.
6. Niệm Phật phải đoạn tuyệt phiền não.
7. Niệm Phật phải khắc kỳ cầu chứng nghiệm. 8. Niệm Phật phải bền lâu không gián đoạn.
9. Niệm Phật phải an nhẫn các chướng duyên. 10. Niệm Phật phải dự bị lúc lâm chung. -
Niệm Phật Tông Yếu
0Trong thời đại hiện nay và nhất là đối với hàng cư sĩ tại gia, Niệm Phật có thể nói là con đường tất yếu để ra khỏi sinh-tử. Đây là Pháp Môn Tha Lực duy nhất trong Phật Pháp mà điểm then chốt là tin tưởng tuyệt đối vào Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà.
Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà là dùng Danh Hiệu của Ngài để cứu độ tất cả chúng sanh. Không hiểu rõ lý nầy, người ta thường cho rằng Xưng-Danh là để cho hạng hạ căn không đủ căn cơ để tu những pháp môn như Quán Thật Tướng, Quán Tưởng, Quán Tượng, v.v… Và khi tu Niệm Phật thì phần nhiều đều mang tâm niệm tự lực, vẫn cứ trông cậy vào sức mình để được vãng sinh. Đó là Tự Lực Niệm Phật. Bởi thế, tu rất nhọc nhằn mà cũng không chắc là mình có được vãng sinh hay không. Những ngộ nhận nầy chính dịch giả cũng mắc phải. Hơn một năm trước đây, may mắn thay, gặp được tác phẩm Pháp Nhiên Ngữ Đăng Lục. Như kẻ mù được sáng, người sắp chết đuối gặp phao. Hốt nhiên tín tâm phát khởi, nhận ra lý Tha Lực Niệm Phật. Từ đây, Niệm Phật trở thành một niềm vui không thể nghĩ bàn, vãng sinh Cực Lạc là điều chắc chắn chứ không cần đến lúc lâm chung. Do đó, xin chọn những pháp ngữ tinh yếu của Ngài để dâng tặng người hữu duyên.
Xin nguyện rằng hễ ai đọc đến Niệm Phật Tông Yếu, đều phát khởi tín tâm, niệm Phật mà được vãng sinh Cực Lạc.
– Pháp Nhiên Thượng Nhân –